Trong năm qua, các cuộc tấn công mạng tiếp tục tăng cả số lượng cũng như tính chất tinh vi, phức tạp. Rò rỉ dữ liệu người dùng và tấn công có chủ đích APT được các chuyên gia nhận định là 2 vấn đề nổi cộm trong bức tranh an ninh mạng Việt Nam 2018.

Rò rỉ dữ liệu người dùng và tấn công có chủ đích APT được các chuyên gia nhận định là 2 vấn đề nổi cộm trong bức tranh an ninh mạng Việt Nam 2018 (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)
Hơn 10.200 cuộc tấn công mạng vào hệ thống thông tin Việt
Nhìn lại bức tranh an toàn, an ninh mạng năm 2018, các đơn vị khối an toàn thông tin (ATTT) của Bộ TT&TT gồm Cục ATTT, Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) và Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC) nhận định, theo xu hướng chung của thế giới, ATTT trong năm qua tiếp tục là lĩnh vực “nóng”. Các cuộc tấn công mạng ngày càng tinh vi và có xu hướng áp dụng những công nghệ mới.
“Mặc dù hành lang pháp lý cơ bản đã được hoàn thiện, nhận thức về bảo đảm ATTT đã được tăng cường, các Bộ, ngành, địa phương đã bắt đầu quan tâm triển khai các hoạt động bảo đảm ATTT nhưng hầu hết vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Nguồn nhân lực và đầu tư cho công tác bảo đảm ATTT vẫn là vấn đề cần phải giải quyết”, báo cáo chung của khối ATTT nêu.
Đáng chú ý, mặc dù số lượng các cuộc tấn công mạng có chiều hướng tăng so với các năm trước, nhất là các tấn công mạng vào hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế; tuy nhiên việc triển khai quyết liệt các giải pháp bảo đảm ATTT đã đưa đến kết quả số lượng cuộc tấn công mạng dẫn đến sự cố tại Việt Nam trong năm 2018 đã giảm so với năm ngoái.

So sánh số lượng các cuộc tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam năm 2017 và 2018 (Nguồn: khối ATTT của Bộ TT&TT)
Cụ thể, theo thống kê của Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia thuộc Bộ TT&TT, năm 2018 Trung tâm ghi nhận 10.220 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam, giảm 1.023 cuộc so với năm 2017 (tương đương 10%). Trong đó có 5.932 cuộc tấn công lừa đảo (Phishing); 3.198 cuộc tấn công thay đổi giao diện (Deface) và 1.090 cuộc tấn công cài cắm mã độc (Malware).
Cũng trong năm 2018, Trung tâm này đã ghi nhận 4.181.773 địa chỉ IP Việt Nam nằm trong các mạng máy tính ma (botnet), giảm 296.024 địa chỉ IP so với năm 2017 (tương đương 6%) sau khi Bộ TT&TT phối hợp với một số Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp xử lý bóc gỡ vào dịp cuối năm. Cùng với đó, năm vừa qua, hệ thống đã ghi nhận 2.166 trang web thu thập thông tin cá nhân của người Việt Nam được đặt tại các nước khác nhau trên thế giới. “Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia đã phối hợp với các tổ chức quốc tế để ngăn chặn, xử lý”, đại diện Cục ATTT cho biết thêm.
Cục ATTT và VNCERT đang hỗ trợ giám sát và cảnh báo sớm các nguy cơ, tấn công mạng cho 24 bộ, ngành và 52 địa phương với tổng số 10.717 hệ thống thông tin, 5.699 tên miền của cơ quan, tổ chức nhà nước. Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia cũng thường xuyên, liên tục giám sát tình hình ATTT trên không gian mạng và hạ tầng Internet công cộng.
“Nóng” chuyện lộ dữ liệu người dùng, tấn công có chủ đích APT
Cũng theo nhận định của các đơn vị khối ATTT thuộc Bộ TT&TT, năm vừa qua, tấn công lừa đảo và thu thập thông tin cá nhân có dấu hiệu tăng cao; xuất hiện nhiều cuộc tấn công mạng nhằm vào người dùng cá nhân để thu thập, lấy cắp thông tin, dữ liệu cá nhân. “Do nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ của người sử dụng còn hạn chế nên số lượng các cuộc tấn công này tăng mạnh so với năm ngoái”, các đơn vị khối ATTT lý giải.
Từ thực tế tư vấn, cung cấp giải pháp đảm bảo ATTT các cơ quan, đơn vị, đồng thuận với đánh giá của các đơn vị khối ATTT, trao đổi với ICTnews, CEO Công ty CyRadar Nguyễn Minh Đức cho rằng, câu chuyện bảo vệ dữ liệu, quyền riêng tư của người dùng các dịch vụ trực tuyến là 1 trong 3 vấn đề nổi cộm nhất trong bức tranh an toàn, an ninh mạng tại Việt Nam trong năm 2018, bên cạnh 2 vấn đề lớn khác là: sự gia tăng mạnh các cuộc tấn công có chủ đích APT tinh vi, phức tạp nhắm tới các hệ thống thông tin trong yếu, nhất là hệ thống của các đơn vị, doanh nghiệp lĩnh tài chính – ngân hàng; tình trạng rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thời gian gần đây.
Chia sẻ thêm về xu hướng số lượng lớn doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ nước ta bị tin tặc tấn công trong năm qua, người đứng đầu Công ty CyRadar cho hay: “So với các doanh nghiệp lớn, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ gần như là chưa được đầu tư, trang bị các giải pháp bảo vệ, phòng vệ nên rất dễ bị tấn công, mã hóa dữ liệu. Thực tế, công ty chúng tôi thời gian qua cũng đã trực tiếp hỗ trợ nhiều doanh nghiệp, tổ chức bị tin tặc tấn công, mã hóa dữ liệu để tống tiền. Đây cũng chính là lý do mà CyRadar dự định sẽ sớm cho ra mắt sản phẩm bảo vệ cho các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ”.
Với xu hướng gia tăng mạnh các cuộc tấn công có chủ đích vào khối tài chính-ngân hàng, ông Đức chỉ rõ: “Vì lợi ích kinh tế, những năm qua, khối tài chính, ngân hàng luôn là đích ngắm của giới tội phạm mạng. Mặt khác, không chỉ các công ty, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng phải đối mặt với nhiều nguy cơ tấn công mạng mà người sử dụng các dịch vụ do các đơn vị này cung cấp cũng thường xuyên bị tấn công. Điển hình là, các chiến dịch tấn công lừa đảo trực tuyến nhắm vào người sử dụng của các ngân hàng, tổ chức tài chính rộ lên trong thời gian qua”.
Ở góc độ của doanh nghiệp có kinh nghiệm nhiều năm tư vấn, cung cấp sản phẩm cũng như phân phối các giải pháp bảo mật của các hãng lớn trên thế giới cho nhiều doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam, ông Khổng Huy Hùng – CEO Công ty VNCS nhấn mạnh, tại Việt Nam, trong năm 2018 đã ghi nhận hàng loạt vụ tấn công APT vào các ngân hàng và hạ tầng quan trọng quốc gia với mục đích đánh cắp các thông tin quan trọng: “Tin tặc kết hợp các biện pháp kỹ thuật cao để qua mặt các hệ thống bảo vệ an toàn hệ thống thông tin của các ngân hàng và các tổ chức đang nắm giữ hạ tầng thông tin trọng yếu để chiếm quyền điều khiển máy tính của người dùng, thông qua đó tấn công các hệ thống máy tính nội bộ chứa các thông tin quan trọng khác”.
Theo đánh giá của ông Hùng, có 4 lý do chính đưa đến tình trạng các cuộc tấn công có chủ đích APT tiếp tục là hình thức tấn công phổ biến trong năm 2018 và thậm chí là trong vài năm tới, đó là: nhận thức về đảm bảo ATTT của người dùng chưa thực sự cao; các biện pháp công nghệ cũng chưa được các tổ chức quan tâm đầu tư đúng mức; mức độ sẵn sàng của các đơn vị trong lĩnh vực phòng chống tấn công mạng còn thấp; và hơn thế, các kỹ thuật tấn công ngày càng tinh vi, đa dạng, được đầu tư kỹ càng hơn.
Theo Vân Anh (ICT News)
Bảo Vệ Thương Hiệu Doanh Nghiệp & Giải Mã Quan Niệm Sai Lầm Về Tên Miền
Đại diện VNNIC khẳng định: Quan niệm cho rằng tên miền quốc tế đăng ký tự do không ai quản lý, còn tên miền .VN trùng tên nhãn hiệu luôn có nguy cơ bị thu hồi là HOÀN TOÀN SAI.
1. Tên Miền Và Sở Hữu Trí Tuệ Là Hai Khái Niệm Độc Lập
Tên miền không chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ mà tuân theo thông lệ quốc tế: “Ai đăng ký trước, được quyền sử dụng trước”.
- Nhãn hiệu: Có thể trùng tên chữ nếu khác nhận diện hình ảnh, màu sắc hoặc thuộc các nhóm sản phẩm/dịch vụ khác nhau.
- Tên miền: Duy nhất trên không gian mạng, chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất đăng ký đầu tiên (trừ danh sách tên địa danh, cơ quan nhà nước được bảo vệ).
👤 Ông Trần Minh Tân – Giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC)
2. Đăng Ký Tên Miền Đẹp Để Chuyển Nhượng Có Vi Phạm Không?
Nhu cầu đăng ký đón đầu các tên miền tự do để phát triển kinh doanh hoặc chuyển nhượng lại là chính đáng và hợp lệ trong ngành công nghiệp tên miền.
📌 Pháp luật Việt Nam đã cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền “.VN” tương tự như đầu tư chuyển nhượng bất động sản. Do đó, việc đăng ký trước tên miền đẹp không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.
3. Khi Nào Tên Miền Bị Thu Hồi? Sự Thật Về Tên Miền Quốc Tế
Việc tên miền có vi phạm hay không phụ thuộc vào nội dung hoạt động trên website, không phụ thuộc vào việc đó là tên miền quốc gia hay quốc tế.
✅ Được Pháp Luật Bảo Vệ
Tên miền không đăng tải thông tin sai sự thật, không nói xấu đối thủ, không bán hàng giả/hàng nhái và không gây mất an toàn mạng sẽ được bảo vệ tuyệt đối, không ai có quyền thu hồi.
❌ Bị Xử Lý Theo Quy Định
Đăng tải nội dung vi phạm, mạo danh, cạnh tranh không lành mạnh sẽ bị xử lý theo Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP (áp dụng cho cả tên miền .VN và Quốc tế).
🌐 Quản lý Tên Miền Quốc Tế Tại Việt Nam
Theo Thông tư 24/2015/TT-BTTTT, cá nhân/tổ chức sử dụng tên miền quốc tế bắt buộc phải nộp đầy đủ bản khai thông tin thông qua Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam để quản lý chủ sở hữu.
4. Giải Quyết Tranh Chấp & Lời Khuyên Cho Doanh Nghiệp
3 Hình thức giải quyết tranh chấp tên miền .VN (Điều 76 Luật CNTT):
1. Thương lượng, hòa giải 2. Thông qua Trọng tài 3. Khởi kiện tại Tòa án
💡 Khuyên dùng từ VNNIC: “Đăng Ký Bao Vây”
Doanh nghiệp nên chủ động bảo vệ thương hiệu trên Internet bằng cách đăng ký sớm các tên miền liên quan và đăng ký “bao vây” các đuôi tên miền quan trọng. Chi phí đăng ký mới rẻ hơn nhiều lần so với chi phí và thời gian đi tranh chấp, đòi lại tên miền khi đã bị bên khác sở hữu.
Nguồn: Vân Anh (Theo ICTNEWS)
Một cái tên hay và một định vị rõ ràng có thể trở thành vũ khí chiến lược của doanh nhân trong thời kỳ đầu.
Trong thực tế, việc đặt tên công ty và sản phẩm thường được thực hiện khá qua loa, đặc biệt là với những người sáng lập trong lĩnh vực công nghệ. Đau lòng hơn là, sai lầm này thường không bắt người sáng lập phải trả giá ngay lập tức, mà trái đắng chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp đã đạt ngưỡng “triệu USD” và quá lớn để thay đổi.
Khôi Nguyễn, sáng lập WeFit được xem là người tiên phong trong việc đưa công nghệ vào lĩnh vực sức khỏe và thể hình. Mới ra mắt hơn một năm với tên công ty phù hợp, WeFit đã đạt được mức tăng trưởng trung bình 40% mỗi tháng, sở hữu 5.000 khách hàng sử dụng hàng tháng, hợp tác với 600 đối tác ở Hà Nội và TP.HCM, doanh thu trong năm 2017 đạt 700.000 USD.

Ngoài việc muốn đưa WeFit sánh ngang với các tên tuổi lớn trong ngành online start-up, sáng lập của WeFit còn ấp ủ giấc mơ xây dựng một công ty unicorn (có giá trị tài sản hơn 1 tỷ USD) cho Việt Nam.
Tên công ty giúp khẳng định thương hiệu
Một trong những yếu tố làm nên thành công của WeFit nằm ở chiến lược định vị thương hiệu, tên công ty và sản phẩm. Theo Khôi Nguyễn, khoảng thời gian đầu khi chưa có nhiều nguồn lực để phát triển công ty, một cái tên hay luôn tạo ra những nguồn lợi khổng lồ. Nó sẽ thu hút sự chú ý của giới truyền thông và nhà đầu tư lớn. Được gây chú ý, các nhà đầu tư sẽ bắt đầu tìm hiểu về doanh nghiệp và cân nhắc đầu tư nếu tầm nhìn của người sáng lập phù hợp với định hướng của họ.
Theo Khôi Nguyễn, khi đặt tên công ty và sản phẩm, yếu tố đầu tiên mà người sáng lập cần để ý là ngôn ngữ. Việc đặt tên công ty, sản phẩm nên tránh những từ nhạy cảm, ảnh hưởng tới việc mở rộng thị trường cho sản phẩm đó tới các quốc gia khác. Chẳng hạn, sản phẩm điện thoại Lumia của Nokia gánh chịu thất bại nặng nề tại EU và Nam Mỹ, chỉ vì trong tiếng Tây Ban Nha, Lumia nghĩa là “mại dâm”.
Tên công ty, sản phẩm giúp khách hàng nhớ đến doanh nghiệp
Thêm nữa, tên sản phẩm cần dễ nhớ và dễ đọc, đặc biệt là càng ngắn gọn càng tốt. Điều này sẽ giúp tên công ty được lan truyền rộng rãi, từ đó nhiều đối tượng khách hàng sẽ biết tới sản phẩm của công ty.
Khi còn làm việc tại Edumall Topica, Khôi cùng các cộng sự đã phải đổi tên sản phẩm Pedia thành Edumall tại cả 3 thị trường, vì đã có một doanh nghiệp đối thủ tại Indonesia là Tokopedia đã rất lớn mạnh rồi. Việc đó đối với start-up không chỉ gây mệt mỏi, mà còn tốn nguồn lực. Tuy nhiên, đó là việc phải làm, vì nếu tên sản phẩm trùng hoặc có cách phát âm giống với một sản phẩm nội địa khác, thì việc phát triển thương hiệu và kinh doanh sẽ vô cùng khó khăn.
Tên sản phẩm cần đầu tư nghiên cứu
Tên sản phẩm cũng cần thân thiện với hệ thống tìm kiếm SEO (điều này rất cần thiết cho marketing thời điểm nguồn lực tài chính không nhiều) và người sáng lập nên đặc biệt quan tâm đến thương mại tại nước sở tại.
Bên cạnh đó, hãy đặt tên sản phẩm dựa trên khách hàng mục tiêu và tầm nhìn dài hạn của doanh nghiệp. Nếu khách hàng mục tiêu là những người trong độ tuổi trung niên, thì tên sản phẩm nên dễ đọc, dễ nhớ, dễ phát âm. Thêm vào đó, tên gọi nên liên quan đến công dụng của sản phẩm để khách hàng, ngay từ khi đọc tên sản phẩm, sẽ phần nào hiểu được tác dụng của nó.
Ngoài ra, người sáng lập không nên đặt tên công ty trùng với tên của sản phẩm, điều này sẽ phần nào làm cản trở việc phát triển một sản phẩm mới. Lý do là, một công ty không bao giờ chỉ sống với một sản phẩm duy nhất, họ luôn phát triển những sản phẩm mới và xây dựng hệ sinh thái cho thị trường ngách, phụ thuộc vào nhu cầu liên tục thay đổi của khách hàng. Nếu tên sản phẩm và tên công ty trùng nhau, đến giai đoạn phát triển một sản phẩm mới, tất yếu start-up sẽ phải nghĩ đến việc thay đổi tên công ty và điều này sẽ gây ảnh hưởng ít nhiều tới quá trình vận hành cũng như thời gian, tiền bạc của công ty.
Tên miền đi cùng tên công ty là vấn đề tiên quyết
Theo Khôi Nguyễn, tên miền cũng là yếu tố gây khá nhiều sự thay đổi trong việc vận hành và phát triển của doanh nghiệp công nghệ, đặc biệt là các start-up có định hướng đi ra toàn cầu.
Trong khi đó, ông Aaron Everhart, người sáng lập Hatch cho rằng, việc đầu tiên các doanh nghiệp phải làm để xây dựng thương hiệu là làm thế nào để khách hàng hiểu về sản phẩm của mình. Chỉ khi khách hàng hiểu được về sản phẩm, biết rõ sản phẩm giải quyết vấn đề gì của họ, thì thương hiệu của sản phẩm mới được khẳng định.
Để xây dựng một thương hiệu vững chắc, điều quan trọng nhất, theo ông Aaron, là việc hiểu rõ tâm lý khách hàng. Ông thường dành một ngày để khảo sát, tìm hiểu sâu về nhu cầu, mong muốn của khách hàng đối với dòng sản phẩm mà mình muốn hướng tới.
“Chính việc tìm hiểu về nhu cầu khách hàng sẽ cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về định hướng phát triển mô hình khởi nghiệp. Khi đã hiểu được rõ về nhu cầu khách hàng, hãy dành một ngày để suy nghĩ về những điều mà bạn có được, qua đó bạn sẽ có ý tưởng về tên và định vị thương hiệu cho sản phẩm của mình”, ông Aaron chia sẻ.
Theo Vũ Anh (Báo Đầu tư)
Các nhà phát triển không còn hứng thú phát triển cho Windows hay Linux, nữa, điều lôi cuốn họ giờ đây là nền tảng điện toán đám mây chứ không phải hệ điều hành.
Bạn hẳn còn nhớ thời kỳ hoàng kim của thế giới hệ điều hành? Khi ấy, Windows và Linux, mỗi hệ hùng cứ một phương.
Nhưng có lẽ cái thời đó đã và sẽ mãi mãi là dĩ vãng, bởi cách phân chia “địa giới” như vậy không còn mấy ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.
Điều này nghe có vẻ lạ lùng nếu xét về mảng máy chủ, nhưng bất cứ ai dành ít nhiều thời gian cho các ứng dụng điện toán đám mây thì cũng đều có thể cảm nhận được. Tim Bray, cựu nhân viên của Google, hiện làm tại Amazon Web Services (AWS), cho rằng “có quá nhiều người vẫn còn mày mò cấu hình hệ điều hành”.
Về phần mình, Tim cho biết bản thân anh đang chuyển sang Lambda, là dịch vụ của AWS, để gán cho mỗi tác vụ cần thực hiện với một đơn vị tính toán riêng biệt.
Nói tóm lại, điện toán đám mây đang hút người dùng ra khỏi hệ điều hành, kéo về phía nó, cho phép các nhà phát triển tập trung vào cấp ứng dụng ở mức cao hơn, không phải lo ngại chuyện kiến trúc bên dưới. Trong khi điều này nghe có vẻ như hồi chuông báo tử cho Windows thì sự thực lại khác rất nhiều.
Cuộc cách mạng tự nhiên của đám mây
Kiến trúc hạ tầng luôn là mục tiêu của điện toán đám mây, cho dù trước đây sự quan tâm là PaaS (Platform as a Service), một thị trường dựa trên IaaS (Infrastructure as a Service) và SaaS (Software as a Service) lại là thực chất của đám mây.
IaaS đã giúp các nhà phát triển không phải xử lý những vấn đề về máy chủ vật lý, còn SaaS lại chiếm được lòng tin của các nhà hoạch định chiến lược kinh doanh, là những người không để tâm nhiều đến CNTT.
PaaS đứng ở giữa IaaS và SaaS, đơn giản là nó chẳng thu hút được ai. Nó là cây cầu quá dài đối với các nhà phát triển nào muốn quản lý cả môi trường phát triển. Dù vậy, nó vẫn mang lại được một nền tảng để phát triển ứng dụng, thử nghiệm ứng dụng và triển khai mã nguồn, nhưng nó không phải là thứ tiêu khiển cho doanh nhân khi rảnh rỗi.

CEO Satya Nadella đang lèo lái con thuyền Microsoft theo hướng tập trung nhiều hơn vào điện toán đám mây.
Tuy vậy, sau vài năm “biết mặt” được IaaS, các nhà phát triển đã sẵn sàng mang mọi thứ lên đám mây. Ví dụ, AWS Lambda cho phép nhà phát triển upload mã nguồn, và Lambda sẽ đảm nhận mọi thứ, từ việc chạy mã nguồn cho đến mở rộng/thu nhỏ quy mô ứng dụng với độ sẵn sàng rất cao.
Nói như cách của các nhà phát triển ở ExpeditedSSL, Lambda giống như bạn yêu cầu AWS tạo cho mình một chiếc máy tính riêng, với một và chỉ một mục đích duy nhất là chạy các khối (block) mã nguồn.
Mỗi Lambda sẽ đảm nhận một chức năng khác nhau trong toàn bộ ứng dụng: upload hình ảnh, thu nhỏ kích thước ảnh… Nhà phát triển chỉ việc viết mã nguồn để bọc lấy những ứng dụng đó và cho phép AWS Lambda làm mọi thứ liên quan đến kiến trúc bên dưới.
Google, IBM và các nhà cung cấp dịch vụ đám mây cũng có những sản phẩm tương tự như Lambda. Khi có càng nhiều dịch vụ đám mây như vậy thì các nhà phát triển không còn phải so đo Windows với Ubuntu, hay Ubuntu với Red Hat nữa. Họ chỉ đơn giản là ngồi viết ứng dụng.
Microsoft với quan điểm mới
Điện toán đám mây không chỉ là “trường học mới”. Microsoft đã in hàng tỷ USD lợi nhuận vào mặt sau của nhãn hiệu Windows nhưng dù vậy họ cũng đang ngoảnh mặt với Windows mà quay sang điện toán đám mây Azure của mình. Tại sao? Bởi vì họ buộc phải làm vậy.
Mảng kinh doanh di động của Microsoft đã phải trả giá khá đắt, nhưng mảng kinh doanh điện toán đám mây của họ lại thành công ngoài mong đợi.
Chỉ đứng thứ hai sau AWS, Microsoft Azure thu hút rất đông các nhà phát triển, không chỉ nhưng người trước đây trung thành với nền tảng Windows.
Cách nay một năm, CEO Microsoft, Satya Nadella, từng nhắn nhủ rằng những ứng dụng đám mây của Microsoft sẽ chạy tốt trên Windows và cùng lúc đó chúng phải chạy được trên mọi nền tảng, với mục đích tăng cường lượng người dùng. Cách tốt nhất để đo được chỉ số này là tốc độ phát triển của Office 365, Azure và EMS (Enterprise Mobility Suite).
Theo góc nhìn này, Microsoft đã thay đổi cách làm truyền thống là chỉ dựa vào Windows. Microsoft đang chuẩn bị kiếm tiền từ một loạt nhà phát triển đám mây mới, là những người linh động chuyển đổi theo nền tảng, không cố định vào một hệ điều hành nào cả.
Các nhà phát triển Windows dần trở thành nhà phát triển Azure, làm việc bên trong những bộ chứa container và sử dụng các phương pháp viết mã khác liên quan đến ứng dụng nhiều hơn là đến kiến trúc bên dưới.
Rõ ràng, Microsoft đang cố gắn bắt nhịp với AWS và Google.
Điều thú vị hơn nữa là điểm kết thúc của Windows lại là điểm khởi đầu cho một thứ gì đó mới mẻ cho “gã khổng lồ” Microsoft.
Internet thực sự rất tuyệt vời, nhưng đây cũng là “miền đất hứa” cho rất nhiều thứ khó chịu. Dưới đây là 10 khó chịu trực tuyến và cách bạn có thể áp dụng để giải quyết chúng nhằm có được trải nghiệm duyệt web tốt hơn.
1. Quá nhiều quảng cáo
Hiển nhiên quảng cáo là một trong những điều gây bực mình nhất trên mạng (nhưng không phải là nhất). Nó không phải là điều tất yếu bởi chúng chỉ là quảng cáo, nhưng vì chúng có quá nhiều và thường xuyên xâm nhập bừa bãi. Dẫu vậy, việc chặn chúng cũng rất dễ dàng. Người dùng chỉ việc chọn một ứng dụng chặn quảng cáo cho Chrome, Firefox, Safari, và thậm chí cả Internet Explorer là được.

2. Quá nhiều Flash
Giống như quảng cáo, Flash sẽ không quá tệ nếu nó được sử dụng hợp lý. Hoặc nếu chúng không chiếm quá nhiều CPU của bạn. Nếu Flash khiến bạn bực mình, có một vài lựa chọn cho bạn. Nếu đang tìm kiếm các giải pháp cho một trình duyệt nào đó, người dùng có thể chọn FlashBlock dành cho Firefox, Chrome, Opera, hoặc Safari. Thêm vào đó, trên Mac OS X, bạn có thể sử dụng FlashFrozen như một giải pháp đối với plug-in Flash hoạt động quá nhiệt tình. Người dùng cũng có thể sử dụng ClickToFlash dành cho Safari trên Mac OS X để mỗi khi muốn xem một đoạn Flash nào trên trang web, bạn sẽ phải kích vào nó để chạy.

3. Các form và đăng nhập thiếu hấp dẫn
Trong khi hầu hết các trình duyệt đều lưu lại mật khẩu và giúp bạn điền các form trực tuyến, điều này chỉ thực sự tiện ích khi bạn sử dụng một trình duyệt web. Mặc dù người dùng có thể gắn bó với cùng một trình duyệt web trên tất cả các hệ thống, nhưng bạn không có được may mắn này khi sử dụng các thiết bị di động. Cũng sẽ rất rắc rối khi bạn quyết định đổi trình duyệt web. Sử dụng một dịch vụ mật khẩu hoạt động trên tất cả những thiết bị bạn đang sử dụng – trên máy tính bàn và trên điện thoại, phương tiện xách tay và máy tính bảng – loại bỏ những khó chịu này sang một bên. Mặc dù gần đây có những rắc rối nhỏ, nhưng chúng tôi vẫn khuyến cáo bạn nên sử dụng LastPass. Tất nhiên, vẫn có một vài lựa chọn tuyệt vời khác mà bạn có thể thích chúng hơn, ví như KeePass, 1Password,…

4. Đăng ký tài khoản mới
Đôi khi người dùng muốn thử một dịch vụ web mới mà không phải đi qua các bước đăng nhập trực tuyến dài dòng.
Đôi khi bạn chỉ muốn sử dụng một dịch vụ nhanh chóng và sẽ không sử dụng tài khoản đó sau này. Cho dù lý do là gì đi nữa, đăng nhập có nghĩa là bạn phải cung cấp thông tin cá nhân của mình – một điều mà không phải lúc nào chúng ta đều muốn. May mắn thay, có các cơ sở dữ liệu của tên người dùng và mật khẩu công cộng để bạn có thể mượn dùng tạm trong những trường hợp này. BugMeNot là lựa chọn tuyệt vời và nó cũng có dạng extension cho trình duyệt Chrome và Firefox. Thêm vào đó, bạn cũng có thể truy cập nó qua trang web chính thức, có cung cấp một bookmarklet cho gần như bất kì trình duyệt nào.
5. Các trang web xấu và rối
Không phải tất cả các trang web đều có giao diện người dùng trực quan và đơn giản, rất nhiều trang trông rất xấu. Nếu bạn muốn nâng cấp một trang nào đó, hãy thử sử dụng Userstyles. Về cơ bản, chúng chỉ loại bỏ CSS để biến các trang trông khác hơn. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể sử dụng các extension và add-on cho việc này. Ví dụ, bạn có thể thay đổi YouTube (Firefox và Chrome), Facebook (hầu hết các trình duyệt), Twitter (sử dụng Greasemonkey), và tất nhiên là cả Gmail (Firefox và Chrome).
6. Mạng xã hội
Mọi người (hoặc có thể là tất cả các công ty) đều sử dụng truyền thông xã hội. Mặt tốt là có rất nhiều ứng dụng web tuyệt vời. Mặt xấu là bạn sẽ gặp phải vấn đề khi quản lý tất cả các ứng dụng web này. Dẫu vậy, bạn cũng không phải quá lo lắng. Có rất nhiều công cụ tiện ích có thể giúp bạn quản lý các tài khoản truyền thông xã hội. Đối với người mới dùng, hãy thử tìm FellowUp, Nutshell Mail,…

7. Kết quả tìm kiếm vô giá trị
Rất nhiều trang có kết quả tìm kiếm không hiệu quả. Hầu hết mọi người thậm chí còn cho rằng Google không phải là tiện ích nhất. Tất nhiên, bạn có thể học một số kỹ thuật giúp tạo từ khóa tìm kiếm trên Google tốt hơn. Bên cạnh đó, bạn còn cso thể thử các công cụ tìm kiếm và phương pháp khác nếu muốn có được một giải pháp thay thế Google. Không phải lúc nào bạn cũng muốn tìm kiếm, nhưng học một vài thủ thuật và mở rộng lựa chọn có thể giúp ích rất nhiều.
8. Nhận xét trực tuyến giả
Khi đang mua sắm trực tuyến, các nhận xét có thể giúp ích khá nhiều khi muốn đưa ra một quyết định. Chúng cũng có thể là giả và làm lạc hướng. Làm thế nào để biết? Những người nói nhiều nhất là các nhận xét mà không có báo trước, tất cả đều được đăng tải ngắn gọn ngay đằng sau người khác, chỉ thực sự nói về các tính năng của sản phẩm mà không phải là các ưu điểm và khuyết điểm của nó, và tên người dùng của các người viết nhận xét đều rất giống nhau. Mặc dù chúng ta không có tiện ích mở rộng nào để có thể dễ dàng nhận diện nhận xét giả mạo, nhưng nếu nhìn kỹ một chút, bạn có thể phát hiện ra chúng rất dễ dàng.
9. Chờ download các file từ các dịch vụ chia sẻ file
Nếu đã từng truy cập trang MegaUpload hoặc RapidShare, bạn chắc chắn biết rằng download một file từ một trong 2 trang này đều yêu cầu tài khoản Premium. Khi không có tài khoản Premium này, người dùng sẽ gặp phải tốc độ donwload file chậm hơn và một chiếc đồng hồ đếm ngược bắt bạn phải chờ. Điều này cũng chỉ để gây khó chịu và dẫn đến việc người dùng trả phí. Mặc dù không thể khắc phục tốc độ download chậm, bạn vẫn có thể loại bỏ thời gian chờ với một tiện ích mở rộng rất thông minh dành cho Firefox là SkipScreen. Được cho là Skipscreen hỗ trợ cả Chrome, nhưng hiện giờ vẫn chẳng thấy nó đâu cả. Một giải pháp khá tiện ích khác là RapidShare Download Helper.
10. Trolls
Internet có thể là một nơi tuyệt vời để thảo luận, nhưng giờ đây điều này đã không còn đúng nữa khi có sự xuất hiện của troll – những kẻ hay phá rối các cuộc đàm thoại và hoạt động của người khác. Những người có ý muốn phá hoại thường làm mọi người không vui, vậy nên chúng tôi đã tập hợp một hướng dẫn đầy đủ về troll.
Tất nhiên, vẫn còn rất nhiều khó chịu khác ở trên web, ví như captcha. Điều gì khiến bạn bực mình nhất? Và bạn đang sở hữu một giải pháp tuyệt vời hơn cho những điều bực mình này? Hãy chia sẻ với mọi người ở mục comment.
Microsoft vừa thông báo rằng trình duyệt Edge của họ đang được sử dụng trên hơn 150 triệu thiết bị mỗi tháng. Hãng nói thêm rằng họ thu thập con số này bằng cách đo số lượng thiết bị tích cực mỗi tháng có dùng Edge chứ không chỉ đơn giản là kiểm tra số lượt tải về trình duyệt này. So với một trình duyệt chỉ mới ra mắt vào tháng 7 năm ngoái thì con số này khá ấn tượng. Để bạn dễ so sánh thì hiện tại có 270 triệu thiết bị đã chạy Windows 10. Còn theo công ty Net Application, lưu lượng Internet của Edge cũng đã tăng gấp đôi giữa giai đoạn tháng 1 đến tháng 2 năm nay, và nếu so với Chrome trong 7 tháng đầu sau khi ra mắt thì Edge có kết quả tốt hơn.

Edge là một bước cải tiến lớn so với IE khi Microsoft đã thiết kế lại từ đầu bộ nguồn dựng trang và cải tiến mạnh bộ máy xử lý JavaScript. Điều này dẫn đến tính tương thích của Edge với các trang web hiện đại cao hơn, hỗ trợ nhiều chuẩn mở hơn và tăng tốc độ tải cũng như thực thi trên web. Với cộng đồng lập trình viên, Edge chia sẻ hầu hết điểm chung với Chrome, Firefox và Opera nên việc làm web cũng dễ dàng hơn, ít phải tùy biến riêng như cách mà họ vẫn hay làm để trang web của mình tương thích với IE.
Nguồn: Windows Central
ENUM là một thủ tục được phát triển bởi IETF, định nghĩa bởi [RFC3761] (Trước đây là rfc2916) trong đó “hệ thống DNS được sử dụng để định danh các dịch vụ có thể truy cập được trên 1 số E.164”. Có nghĩa là bằng cách sử dụng phương pháp chuyển đổi số (điện thoại) E.164 thành các trường thông tin định danh trong hệ thống DNS, sử dụng cơ chế chuyển giao quản lý của thủ tục DNS, và các trường dữ liệu “con trỏ quyền định danh” (NAPTR) trong hệ thống DNS mà người ta có thể tìm kiếm các dịch vụ được cung cấp trên 1 tên miền/số E.164 nào đó theo cách thức phân tán quyền quản lý thường được sử dụng trong hệ thống DNS.
Nói một cách rộng hơn, ENUM là một thủ tục công nghệ có thể được sử dụng để gắn kết hệ thống viễn thông truyền thống với hệ thống mạng truyền thông mới là Internet. Do đó, ENUM có thể được coi là một thành tố quan trọng của nền công nghiệp truyền thông trong việc chuyển đổi việc truyền tải thoại và dữ liệu từ mạng viễn thông truyền thống sang truyền tải qua mạng Internet.
Để hiểu rõ ENUM, trước hết cần tìm hiểu các khái niệm điện thoại, điện thoại IP (voice over IP), và cấu trúc của dịch vụ tên miền DNS.
1. Hệ thống điện thoại và điện thoại IP
Hệ thống điện thoại và điện thoại IP được xem xét đến do đây chính là các dịch vụ mấu chốt khiến cho ENUM được quan tâm đến. ENUM có thể mang lại nhiều lợi ích khác nhau, nhưng trước hết, ENUM được xem như 1 công nghệ cách mạng đối với sự hội tụ 2 loại hình dịch vụ thoại này.
“Mạng điện thoại công cộng” PSTN là khái niệm được dùng để chỉ hệ thống điện thoại truyền thống được xây dựng từ thế kỷ 20, và được ứng dụng toàn cầu, có mặt tại hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tính chất quan trọng cơ bản là ở chỗ mạng này là mạng chuyển mạch kênh, tức là khi có 1 cuộc gọi được thiết lập, 1 kênh kết nối (kênh) sẽ được thiết lập bằng các chuyển mạch từ đầu cuối gọi tới đầu cuối bị gọi. Kênh kết nối này được thiết lập và duy trì cho tới khi cuộc gọi kết thúc.
Trái với chuyển mạch kênh, mạng Internet là mạng chuyển mạch gói, trên đó các thông tin được chia thành các gói và truyền trên các hệ thống thông tin sử dụng chung. Tập hợp các thủ tục xử lý các gói tin cùng với sự phát triển của các mạng kết nối với Internet đã làm cho Internet trở thành mạng kết nối lớn nhất toàn cầu. Ngày nay đa số các dạng thức dữ liệu thông tin trao đổi toàn cầu được lưu chuyển trên nền mạng Internet.
Điện thoại IP (voice over IP) là dịch vụ điện thoại sử dụng công nghệ chuyển đổi dữ liệu thoại thành các gói dữ liệu IP và truyền qua Internet thông qua các thủ tục internet. Hiện nay có rất nhiều dịch vụ VoIP khác nhau đã được triển khai thương mại trên thực tế, và đã trở thành một trào lưu phát triển mạnh mẽ
Để có thể gọi được điện thoại IP, không cần thiết phải sử dụng ENUM. Người ta có thể gọi trực tiếp tới đầu cuối sử dụng VoIP khác hay gọi thông qua 1 nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Một phương pháp thông thường nhưng không phải là duy nhất là sử dụng thủ tục thiết lập phiên (Session Initiation Protocol) hay SIP. SIP làm nhiệm vụ thiết lập cuộc gọi, rung chuông người bị gọi thông qua Internet. Gửi gói tin SIP đi cũng tương đương với việc quay số trên mạng PSTN truyền thông. Địa chỉ được sử dụng trong SIP có dạng gần giống với địa chỉ thư điện tử, ví dụ như “sip:hmcuong@vnnic.net.vn” có thể được dùng làm địa chỉ bị gọi bởi SIP.
Một vấn đề tồn tại tại thời điểm này là sự tương tác giữa các đầu cuối điện thoại truyền thống và điện thoại IP có nhiều khó khăn. Trong khi các đầu cuối điện thoại IP có thể dễ dàng gọi tới đầu cuối PSTN thông qua các gateway chuyển đổi sử dụng phần mềm thì các đầu cuối thoại truyền thống, thông qua các chuyển mạch kênh kiểu cũ thường không thể hiểu được các đích định tuyến cần truyền tải, và do đó bắt buộc phải có 1 gateway cục bộ được định sẵn trong cùng mạng PSTN đó để kết cuối các cuộc gọi. Đó là chưa kể các đầu cuối truyền thống thường chỉ có các phím số, không thể sử dụng cùng loại địa chỉ với các đầu cuối VoIP (có thể có địa chỉ dạng SIP)… Đây chính là điểm ENUM được thiết kế để giải quyết.
2. Hệ thống DNS
DNS là một dịch vụ truy vấn có cấu trúc phân tán, mục đích chính của nó là sử dụng để truy vấn địa chỉ IP từ một tên miền. Còn ENUM, theo như định nghĩa trong [RFC2916][1], thì được sử dụng để ánh xạ số điện thoại theo chuẩn E.164 của ITU-T vào DNS.
Trong hệ thống Internet truyền thống, DNS được coi là một thành phần mang tính chất quyết định, được sử dụng như cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng đại đa số các thủ tục khác. Sở dĩ như vậy là vì đối với mọi loại dịch vụ được người sử dụng Internet sử dụng, “địa chỉ” nguồn, đích, hệ thống dịch vụ, gateway … là các yếu tố then chốt, và chỉ với việc sử dụng hệ thống DNS thì việc sử dụng địa chỉ IP, vốn là những con số khó nhớ, khó kiểm soát mới trở nên dễ dàng và có khả năng ứng dụng cao. Ngoài ra, hệ thống DNS được xây dựng với một cấu trúc phân tán, có khả năng mở rộng gần như không giới hạn, và với thủ tục truy vấn đã được phát triển và hoàn thiện qua thời gian dài, có tốc độ truy vấn cao và dễ ứng dụng, dịch vụ DNS đã trở thành dịch vụ tiêu chuẩn. Trung bình với mỗi phiên làm việc của 1 dịch vụ bất kỳ, thường cần đến ít nhất 3 truy vấn DNS. Đối với các dịch vụ như HTTP (dịch vụ duyệt web) thì số truy vấn còn nhiều hơn do các liên kết có trong các bản tin HTML có rất nhiều tham chiếu tới các địa chỉ web khác.
Trong khoảng thời gian hơn 30 năm phát triển của mình, thủ tục DNS đã được hoàn chỉnh và bổ sung tương đối nhiều. Điều đó có được là do các mô tả ban đầu của thủ tục có rất nhiều điểm mở, cho phép định nghĩa thêm các loại hình dữ liệu, các loại tham số, độ ưu tiên, trọng số, cấu trúc trường dữ liệu, kiểu dữ liệu mới một cách rất thuận tiện. DNS được đánh giá là có khả năng mở rộng không giới hạn, có khả năng lưu trữ gần như mọi loại dữ liệu, gần giống với hệ thống thư mục directory được phát triển gần đây. Thực tế, trong một số hệ thống như hệ thống Active Directory™ của Microsoft® ứng dụng trong các hệ thống Windows2000 trở lên, Microsoft đã sử dụng DNS như một cơ sở dữ liệu phân tán các thuộc tính trên diện rộng, và đã tạo ra một trào lưu mới trong việc đưa thêm các ứng dụng bổ sung khác vào DNS. Hiện tại, ngoài việc được sử dụng như cơ sở dữ liệu tên miền địa chỉ, DNS còn được dùng để truy vấn ngược từ địa chỉ ra tên miền (reverse lookup), tìm kiếm các máy chủ dịch vụ (như truy vấn bản ghi SRV được sử dụng trong SIP), LDAP schema …
Cơ sở của hệ thống DNS là một hệ thống cơ sở dữ liệu, được phân nhóm dựa trên các miền dữ liệu (domain). Với các dịch vụ internet truyền thống, các miền này là các tên miền (domain name) như .com, .net, .vn, .com.vn, .vnnic.net.vn …. Trong mỗi miền đó có các dữ liệu con như “www”, “mail”, “ftp”… và ứng với mỗi tên miền con có thể có nhiều các bản ghi dữ liệu. Điểm mạnh của DNS là ở chỗ các bản ghi dữ liệu có nhiều dạng khác nhau, và dễ dàng được khai báo thêm các định dạng mới, với các cấu trúc dữ liệu mới.
Ví dụ bản ghi khai báo cho các máy chủ thường có dạng:
www.vnnic.vn. IN A 203.162.57.102
Trong khi bản ghi đối với dịch vụ email có dạng
vnnic.net.vn. IN MX 10 mail.vnnic.net.vn.
hay bản ghi đối với dịch vụ ENUM có dạng
4.4.9.4.6.5.5.4.4.8.e164.arpa. IN NAPTR 10 10 “u” “sip+E2U” “!^.*$!sip:hmcuong@hmcuong.vnnic.net!” .
Có thể thấy, các cấu trúc dữ liệu rất khác nhau, và được định nghĩa tùy theo các yêu cầu cụ thể của thủ tục, ứng dụng sử dụng. Yếu tố quyết định ở đây là trường kiểu dữ liệu (record type) trong các bản ghi (như A, MX, NAPTR trong các ví dụ trên). Ứng dụng cũng có thể lựa chọn để nhận được dữ liệu ứng với 1 kiểu bất kỳ, hoặc cũng có thể lựa chọn để nhận tất cả các dạng bản ghi (ANY). Hệ thống DNS cũng có thể chỉ thị các tham chiếu để ứng dụng truy vấn các miền khác, hoặc các máy chủ khác nếu cần (cơ chế chuyển giao – delegation). Do đó hệ thống các máy chủ phân tán có thể được liên kết với nhau trở thành 1 hệ thống thông tin phức hợp, có thể mở rộng tới toàn cầu, toàn mạng Internet.

Hình 1. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS
Để có thể phân tán hệ thống DNS toàn cầu, đồng thời đảm bảo được các công tác phân cấp quản lý và sử dụng hệ thống DNS, cơ sở dữ liệu hệ thống DNS được phân tầng quản lý như biểu đồ cấu trúc ở trên. Trong đó các tổ chức khác nhau được phân cấp (hay còn gọi là chuyển giao) các tên miền ở 1 cấp nhất định, và có thể phân cấp (chuyển giao) lại các tên miền cấp dưới của mình cho tổ chức khác …
Để tăng cường độ sẵn sàng của dịch vụ và phân bố tới mọi nơi trên thế giới 1 cách hiệu quả nhất, hệ thống máy chủ DNS được phân tán rộng khắp một cách mềm dẻo, với 13 máy chủ tên miền cấp cao nhất (root servers) phân bố toàn cầu như hình vẽ sau:

Hình 2. Các máy chủ tên miền cấp cao nhất (root server) và phân bố địa lý của chúng
Các máy chủ tên miền root này lại chuyển giao các tên miền cấp dưới cho các máy chủ tên miền khác trên toàn thế giới, tạo thành một hệ thống máy chủ tên miền rộng khắp và bền vững nhất trong số các loại dịch vụ Internet thông dụng.
Ngoài ra, DNS còn có nhiều công nghệ quan trọng bổ trợ khiến cho nó có khả năng đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau của các loại dịch vụ. Có thể kể đến một số công nghệ có liên quan như sau (chi tiết về các công nghệ này nằm ngoài phạm vi của luận văn, và có thể tham khảo từ các tài liệu được nêu trong phần tài liệu tham khảo).
2.1 Công nghệ cập nhật động (Dynamic update)
[RFC2136] đã giới thiệu khả năng cập nhật động các bản ghi DNS, và được ứng dụng trong các phiên bản BIND 8 và 9. Công nghệ này cho phép chương trình cập nhật (thêm, bớt) các bản ghi tài nguyên trong một miền mà máy chủ cho phép. Khả năng này cho phép server phân quyền cập nhật cho người sử dụng trên các miền mà họ đăng ký, và thông qua mạng Internet, có thể tự cập nhật sửa chữa các thông tin bản ghi mà mình muốn. Tính năng này được sử dụng trong ENUM để cho phép người sử dụng thay đổi các thông tin gắn với số ENUM của mình, do đó được coi là một thành phần tất yếu của 1 hệ thống ENUM thực tế.
Để quản lý việc cập nhật dữ liệu và phân quyền, có thể dùng các biện pháp kiểm soát truy nhập thông thường trong hệ thống DNS như kiểm soát bằng ACL (Access Control Lists), sử dụng các cập nhật được ký điện tử (sử dụng chữ ký điện tử của người cập nhật) TSIG[1], sử dụng DNSSEC …
Trong thực tế ứng dụng ENUM, các thao tác cập nhật thông tin động xảy ra rất nhiều, do đó hệ thống DNS phải được thiết kế để có thể đảm bảo chịu được tải truy vấn, cập nhật với số lượng lớn
2.2. Công nghệ DNSSEC
DNSSEC, hay các mở rộng an ninh cho hệ thống DNS, được định nghĩa trong [RFC2535]. Công nghệ này sử dụng cơ chế mã hóa công khai[1] để tạo ra các chữ ký điện tử, do đó tăng cường độ an toàn bảo mật thông tin cho các dữ liệu cập nhật. Vì lý do đó, DNSSEC an toàn hơn TSIG trong việc trao đổi cập nhật dữ liệu bản ghi động, và thường được ứng dụng trong các giao dịch cập nhật DNS giữa máy chủ chính và máy chủ thứ cấp
2.3. Công nghệ quản lý phân cấp EPP
EPP được định nghĩa trong [RFC3730], là kết quả của nhóm nghiên cứu về quản lý đăng ký (provisioning registry). Đây là công nghệ nhằm thống nhất các chuẩn giao tiếp của các hệ thống đăng ký, cung cấp khả năng làm việc phân cấp trên một cơ sở dữ liệu đăng ký chung. Thông qua EPP, các nhà đăng ký (registry) có thể đăng ký thêm các dữ liệu (như tên miền, số ENUM) vào cơ sở dữ liệu DNS chung.
Thông qua EPP, việc phân chia các Tier trên hệ thống quản trị ENUM được thực hiện dễ dàng và nhất quán.
Chính vì các đặc tính nói trên, DNS trở thành ứng cử viên sáng giá cho hệ thống thông tin lưu trữ trong các ứng dụng như ENUM.
3. ENUM
ENUM xuất phát từ ý tưởng xây dựng 1 hệ thống thông tin truy vấn giống như hệ thống trang vàng điện tử, qua đó từ 1 yếu tố có sẵn duy nhất với từng cá thể tham gia hoạt động mạng (ở đây chọn là số điện thoại, theo chuẩn do ITU quy định trong E.164, và đã được tất cả các quốc gia trên thế giới ứng dụng từ nhiều thập kỷ) có thể truy vấn ra các địa chỉ dịch vụ mà cá thể đó cung cấp, hoặc có thể sử dụng được. Thực tế trước đây với các hệ thống thư mục directory, hệ thống trang vàng, hệ thống tìm kiếm thông tin trên Internet, người ta đã xây dựng nhiều hệ thống truy vấn thông tin như vậy. Nhưng các hệ thống trên thường sử dụng tên cá nhân, địa chỉ email, hay thậm chí số thẻ an ninh xã hội … làm chỉ mục. Các thông tin trên mặc dù có thể là duy nhất, nhưng không có tính chất toàn cầu, cũng như các hệ thống thông tin đó khó có thể mở rộng ra toàn cầu và cho các ứng dụng trừu tượng, các ứng dụng chưa có tại thời điểm hiện tại, khó có thể cung cấp cho các môi trường ngôn ngữ, môi trường thông tin phức hợp khác nhau. Do đó ENUM ra đời với việc gắn các hoạt động lưu trữ và truy vấn với DNS đã giải quyết được các khiếm khuyết nói trên.
Với ENUM có thể ánh xạ 1 số điện thoại tới các dịch vụ hay tài nguyên mạng trong DNS, ví dụ như có thể ánh xạ số điện thoại ENUM vào số điện thoại, số fax, voicemail, số mobile khác, hay tới các địa chỉ email, trang chủ web, hay các loại hình dịch vụ hay tài nguyên khác được định nghĩa với định danh URI (xem phần sau). Trong trường hợp tối ưu, các số điện thoại bất kỳ đều có thể được ánh xạ 1 – 1 trong cùng hệ thống DNS toàn cầu, và do đó có thể tương tác qua lại được với nhau

Hình 3. Các dạng dữ liệu được ánh xạ từ 1 số ENUM
ENUM là sự hội tụ của viễn thông và Internet. Với ENUM, một ứng dụng viễn thông (như điện thoại, fax) có thể làm việc với 1 ứng dụng Internet (như softphone, voice over IP, fax over IP, instant messenger…) mà không cần phải sinh ra các số điện thoại ảo (như đang làm trong các hệ thống VoIP hiện tại), và ngược lại. Sở dĩ như vậy là vì ENUM có thể ứng dụng ở đầu cuối hay ở tổng đài, hay các thiết bị chuyển đổi trung gian như sẽ trình bày ở phần sau. Qua đó, từ số điện thoại, qua truy vấn ENUM, ứng dụng sẽ biết được thủ tục giao tiếp cần sử dụng, địa chỉ tài nguyên đích được truy vấn và các thông số khác để thực hiện các kết nối.

Hình 4. ENUM được sử dụng để kết nối mạng PSTN truyền thống với mạng Internet
3.1. Mô hình ứng dụng ENUM
Trên thực tế triển khai các hệ thống VoIP, một vấn đề kỹ thuật nảy sinh chưa được giải quyết triệt để là việc chuyển mạch các cuộc gọi từ mạng viễn thông vào mạng VoIP. Trong khi việc gọi từ 1 đầu cuối VoIP ra một điện thoại thông thường rất dễ dàng thì chiều ngược lại thường không xử lý được, thông thường, cuộc gọi được kết thúc trên mạng PSTN, và người được gọi phải kết nối terminal của mình với mạng PSTN cụ thể đó. Điều này dẫn đến cần phải phát triển một kiểu đánh số công cộng toàn cầu nào đó hỗ trợ việc đánh số cho các đầu cuối VoIP. Nhưng nếu không sử dụng hệ thống số E164 thì khả năng cộng tác giữa các mạng VoIP sẽ rất khó khăn. Nhiều quốc gia như Nhật bản cũng đã quy hoạch trong kho số E164 quốc gia một khoảng mã cho các ứng dụng IP base, nhưng điều này cũng chưa được chuẩn hóa nên khó tương tác với nhau. Trái lại với ENUM, không cần thiết phải quy hoạch lại cho đánh số mà có thể sử dụng cấu trúc đánh số sẵn có. Sử dụng ENUM, 1 đầu cuối IP có thể dễ dàng kết nối với đầu cuối viễn thông thông thường.
Các mô hình ứng dụng ENUM có thể được thực hiện ngay tại thời điểm hiện tại có thể kể đến:
Ứng dụng trong hệ thống ứng dụng Internet:
– Truy vấn trang chủ cá nhân qua số ENUM: Một trang chủ cá nhân trước đây có dạng http://www.hmcuong.com nay có thể được truy vấn với 1 số ENUM của chủ nhân: +84913212341 (Hệ thống DNS sẽ trả về URL tương ứng là “http://www.hmcuong.com”)
– Gửi và nhận thư điện tử với ENUM: Thay cho việc phải nhớ địa chỉ email của người nhận, có thể gửi email tới số điện thoại ENUM (Hệ thống DNS sẽ trả về URL là “mailto:hmcuong@vnnic.net.vn”, và hệ thống email tương ứng sẽ có được địa chỉ email cần để sử dụng)
– Nhắn tin tức thời (instant messaging) thông qua địa chỉ ENUM
– Gọi điện thoại IP dùng số ENUM: Ví dụ có thể dùng ENUM để truy vấn địa chỉ sip phone của người bị gọi, và do đó biến dịch vụ sip phone thành dịch vụ tương đương với dịch vụ điện thoại. (Xem phần thử nghiệm thực tế triển khai giải pháp này)
Ứng dụng cho hệ thống phức hợp viễn thông và Internet:
– Gọi từ mạng viễn thông vào dịch vụ Internet: Ví dụ có thể gọi tới 1 tổng đài gateway chuyển mạch mềm (softswitch) có hỗ trợ ENUM, tại gateway này, truy vấn ENUM với số điện thoại đích sẽ cho về các URL cuối có thể sử dụng. Địa chỉ cuối có thể là 1 số VoIP sử dụng H323, MGCP, SCCP, hay 1 softphone sử dụng SIP, và gateway lúc đó sẽ làm vai trò trung gian chuyển đổi. Lợi ích là ở chỗ các thuê bao của gateway này có thể sử dụng được số điện thoại công cộng thông thường, và có khả năng hoán chuyển giữa các dạng dịch vụ được cung cấp. Quan trọng nhất là ở đây, các đầu cuối viễn thông truyền thống không cần phải thay đổi để có thể sử dụng được dịch vụ mới.
– Gọi từ mạng Internet ra mạng viễn thông: Truy vấn ENUM từ đầu cuối, hoặc từ proxy, gateway cho phép lấy được địa chỉ URL của gateway cuối kết nối ra mạng viễn thông, và do đó các hệ thống VoIP toàn cầu có thể làm việc được với nhau trên nền cơ sở hạ tầng chung. Đây là vấn đề chưa giải quyết được đối với VoIP hiện nay, càng không giải quyết được với dịch vụ SIP.
– Sử dụng các dịch vụ kết hợp: Ví dụ gateway có thể cung cấp các dịch vụ viễn thông thông thường như thoại, fax, voicemail, và các dịch vụ ứng dụng Internet như voice to mail, voice to web, voice to IM, SMS to IM v.v.
Ứng dụng tích hợp
Một tổng đài softswitch hỗ trợ ENUM có thể được xây dựng cho môi trường dịch vụ tích hợp như ví dụ sau:
– Các thuê bao được cấp 1 số điện thoại công cộng (hoặc sử dụng số có sẵn). Với mỗi thuê bao, các dịch vụ có thể sử dụng là: điện thoại di động, điện thoại nhà riêng, điện thoại bàn làm việc, điện thoại softphone, email, trang chủ cá nhân, nhắn tin trực tuyến IM…
– Khi thuê bao không có mặt tại cơ quan (nhận biết qua hệ thống kiểm tra vào ra tại cửa cơ quan, cập nhật trực tuyến vào hệ thống DNS-ENUM, hoặc qua dịch vụ Presence-RFC2778), gateway sẽ trả chuyển mạch tới số điện thoại di động, hoặc số nhà riêng nếu số di động không liên lạc được
– Khi thuê bao tới cơ quan, gateway sẽ chuyển mạch tới máy để bàn
– Khi thuê bao login vào hệ thống thông tin nội bộ, gateway chuyển tới softphone sử dụng công nghệ SIP
– Trang chủ của thuê bao được kết nối nêu yêu cầu của người gọi là yêu cầu duyệt thông tin
– Email của thuê bao được cung cấp nếu yêu cầu của người gọi là gửi thư
– Tương tự đối với các hệ thống SMS, IM, Fax…
Tóm lại, với ENUM, có thể hội tụ các dịch vụ viễn thông và Internet để cung cấp 1 cơ sở hạ tầng thông tin chung, giải quyết được các vấn đề về làm việc cộng tác giữa các hệ thống dịch vụ khác nhau.
3.2. Các ứng dụng khác của ENUM
Định danh 1 số duy nhất
Cung cấp khả năng sử dụng 1 địa chỉ dạng số duy nhất cho tất cả các dạng liên lạc. Một số quốc gia như Hàn quốc có kế hoạch triển khai hệ thống địa chỉ số trọn đời (lifetime number), trong đó mỗi cá nhân có thể đăng ký 1 số (không nhất thiết phải là số điện thoại, nhưng theo chuẩn E.164) và có thể giữ số định danh duy nhất đó suốt đời. Với ENUM, số định danh này có thể được sử dụng làm địa chỉ liên hệ cho tất cả các loại hình liên lạc với chủ thể, bao gồm cả điện thoại cố định, fax, di động, trang chủ, email, VoIP, nhắn tin SMS, IM v.v.
Tách rời khỏi mạng viễn thông truyền thống
Có nhiều ứng dụng thực hiện theo hướng này, tức là làm giảm dần sự lệ thuộc vào hệ thống điện thoại truyền thống trong việc lưu chuyển các thông tin. Có một số hướng như sau:
– Loại bỏ PSTN ở phạm vi doanh nghiệp: Hệ thống thông tin nội bộ sẽ là hệ thống điện thoại IP. Truy vấn ENUM cho phép chuyển đổi cuộc gọi ra ngoài thông qua các gateway VoIP, và như vậy bỏ qua hoàn toàn hệ thống PSTN
Tương tự với trường hợp doanh nghiệp, các thuê bao cá nhân cũng có thể có nhu cầu sử dụng các hệ thống thông tin cá nhân hay gia đình có khả năng tùy biến cao, có khả năng kết nối từ internet tới internet, song song với khả năng sử dụng các dịch vụ VoIP và thoại truyền thống. Với các thiết bị gia dụng hỗ trợ ENUM, việc tích hợp là hoàn toàn có thể. Hiện tại cũng đã có các thiết bị gia dụng với chức năng chuyển toàn bộ các dạng dữ liệu truyền thông tới 1 gateway thiết kế sẵn, nhưng hệ thống này không có khả năng tùy biến cao, không có khả năng tự lựa chọn phương thức truyền thông và nhà cung cấp dịch vụ một cách trực tuyến.

Hình 5. Sử dụng gateway để tùy biến lựa chọn dịch vụ viễn thông thích hợp
Chuyển mạch cuộc gọi trong 1 mạng dịch vụ điện thoại
Các nhà cung cấp dịch vụ thoại cũng có khả năng đạt được lợi ích với việc đưa các hệ thống chuyển mạch mềm hỗ trợ ENUM vào sử dụng. Với ENUM, các tổng đài chuyển mạch mềm trở nên tương thích hoàn hảo hơn với các hệ thống tổng đài truyền thống, và do đó một bộ phận của hệ thống mạng trục dịch vụ có thể được truyền tải qua Internet mà không gây ảnh hưởng gì đối với các phần còn lại của hệ thống. Trong trường hợp này, việc đưa ENUM vào ứng dụng có thể là hoàn toàn trong suốt đối với người sử dụng, việc định tuyến cuộc gọi trong mạng có thể được quyết định bởi hệ thống DNS ENUM nội bộ, hoặc sử dụng hệ thống ENUM toàn cầu.

Hình 6. Mạng dịch vụ PSTN với IP backbone, routing với ENUM
Tạo ra các dịch vụ điện thoại gia tăng tới các dạng dịch vụ Internet mới
Với ENUM có thể tạo ra các dạng dịch vụ mới cho các thuê bao điện thoại (với các phím số) kết nối với cơ sở hạ tầng phong phú dịch vụ của Internet. Sử dụng các khả năng đa phương tiện và truyền thông của Internet có thể cung cấp thêm các khả năng kết nối và nội dung cho các thuê bao điện thoại. Ví dụ có thể dễ dàng cung cấp các dịch vụ web, email cho điện thoại di động, text to speech cho điện thoại, SMS to IM, email to SMS v.v.
ENUM cũng có thể làm nảy sinh ra các dịch vụ mới, do khả năng sử dụng số điện thoại vào trong các dịch vụ IP một cách dễ dàng, nó có thể mang lại khả năng đưa các dịch vụ mới vào các thị trường viễn thông truyền thống.
Một lỗ hổng nghiêm trọng mới được phát hiện trong GNU C Library (glibc), một thành phần cốt lõi trong hầu hết các bản phân phối Linux. Lỗ hổng ảnh hưởng tới gần như tất cả hệ thống Linux và hàng ngàn ứng dụng cũng như các thiết bị có nguy cơ bị tin tặc chiếm quyền kiểm soát.

Chỉ cần nhấn vào một đường dẫn hoặc kết nối đến một máy chủ có thể dẫn đến thực thi mã từ xa (RCE), cho phép tin tặc đánh cắp thông tin tài khoản, theo dõi người dùng, kiểm soát thiết bị và nhiều hơn nữa.
Lỗ hổng mới khá giống lỗ hổng GHOST (CVE-2015-0235) được phát hiện trong năm ngoái. GNU C Library (glibc) là một tập hợp code mã nguồn mở được sử dụng trong hàng ngàn ứng dụng và các phiên bản Linux, bao gồm cả các thiết bị phần cứng như bộ định tuyến. Lỗ hổng mới có định danh CVE-2015-7547 là một lỗi tràn bộ nhớ stack trong bộ phân giải DNS phía client vốn được sử dụng để phiên dịch tên miền thành địa chỉ IP.
Lỗ hổng xảy ra khi getaddrinfo() library function thực hiện tra cứu tên miền đang được sử dụng, cho phép tin tặc thực hiện mã độc hại. Tin tặc có thể khai thác khi một thiết bị hay ứng dụng thực hiện truy vấn đến một máy chủ DNS độc hại sau đó sẽ được nhận lại mã độc trong bộ nhớ. Mã độc xâm hại ứng dụng và thiết bị sau đó kiểm soát toàn bộ hệ thống.
Các phần mềm bị ảnh hưởng:
Gần như toàn bộ các bản phân phối Linux
Các ngôn ngữ lập trình như Python, PHP và Ruby on Rails
Các ứng dụng sử dụng code Linux để tra cứ địa chỉ IP của tên miền Internet
Hầu hết các phần mềm Bitcoin
Bản chứng minh Proof-of-Concept mã khai thác đã được phát hành vào thứ ba. Các nhà nghiên cứu Google cùng công ty Red Hat đã phát hành bản vá ngay lập tức. Với các máy chủ, bản vá sẽ được tải về và cập nhật dễ dàng nhưng với những người dùng khác, các ứng dụng phải được biên dịch lại với thư viện glibc mới.
Nếu bạn chưa thể áp dụng bản vá ngay lập tức hãy giới hạn tất cả phản hồi TCP DNS xuống 1024 byte và loại bỏ gói tin UDP DNS lớn hơn 512 byte.
Ngày nay, tình trạng tấn công qua mạng giữa các quốc gia diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Việt Nam đang là quốc gia có tốc độ phát triển về công nghệ thông tin nhanh nhất tại khu vực Đông Nam Á, vì vậy có thể là mục tiêu tấn công của tội phạm mạng toàn cầu.
Bằng thiết bị giám sát mạng tiên tiến, Trung tâm đã theo dõi và ghi nhận được những cuộc tấn công vào hệ thống thông tin của Việt Nam. Dưới đây là biểu đồ ghi lại danh sách 05 quốc gia có nguồn địa chỉ IP tấn công mạng nước ta nhiều nhất năm trong 2015, được chia theo từng quý.
Quý I năm 2015:

Quý II năm 2015:

Quý III năm 2015:

Quý IV năm 2015:

Thống kê trên cho thấy, hệ thống thông tin của nước ta bị tấn công từ rất nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc… Những quốc gia này có nền công nghệ thông tin rất phát triển, do đó các đơn vị, tổ chức trong nước cần liên kết chặt chẽ với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới để cập nhật kiến thức, nâng cao khả năng ứng phó với các lực lượng tấn công mạng từ quốc gia nước trên thế giới.
TBT – VNCERT
Theo hãng bảo mật Trend Micro 3 mối đe dọa an ninh mạng lớn nhất năm 2016 mà chúng ta sẽ phải đối mặt đó là: đánh cắp dữ liệu, mã độc tống tiền ransomware và các plug-in trình duyệt.
Theo kết quả các cuộc khảo sát của hãng bảo mật Trend Micro (Nhật Bản), đánh cắp dữ liệu, mã độc tống tiền ransomware và các plug-in trình duyệt được coi là hiểm họa an ninh mạng lớn nhất năm 2016.
Ông Võ Đỗ Thắng – Giám đốc Trung tâm đào tạo quản trị và an ninh mạng Athena – cho rằng đánh cắp thông tin và tống tiền đang trở thành xu hướng tấn công chính của hacker trong giai đoạn 2015-2016. Đây là hình thức tấn công mang lại lợi nhuận cao cho tội phạm mạng, mỗi cá nhân, doanh nghiệp khi bị tấn công sẽ bị yêu cầu trả tiền từ vài trăm đến hàng ngàn USD.

Mã hóa dữ liệu
Ông Nguyễn Minh Đức – Trưởng nhóm Bảo mật, Ban Công nghệ tập đoàn FPT – khi trả lời ICTnews trước đây cũng cho biết có nhiều tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân đã từng bị nhiễm các phần mềm mã hoá tống tiền, nhóm Bảo mật của FPT cũng từng hỗ trợ một doanh nghiệp tài chính bị nhiễm phần mềm này.
Dưới đây là 3 xu hướng chính mà khảo sát của Trend Micro cho biết sẽ là các mối lo ngại lớn trong năm 2016.
Đánh cắp dữ liệu
Đánh cắp giữ liệu không phải là điều mới mẻ. Nó đứng đầu danh sách theo dõi của các chuyên gia an ninh mạng kể từ vụ tấn công vào nhà bán lẻ Target (Mỹ) năm 2013, để lộ thông tin của 110 triệu khách hàng. Nhưng theo nghiên cứu của các chuyên gia bảo mật Trend Micro, bản chất của mối đe dọa này sẽ thay đổi trong năm 2016.
Việc đánh cắp dữ liệu của các nhà bán lẻ lớn sẽ còn tiếp tục trong tương lai gần, và các khách sạn chính là mục tiêu được chọn vào thời điểm này. Nhiều nhà hàng, khách sạn, nhà bán lẻ hiện nay sử dụng các máy tính tiền (máy “cà thẻ”) nên nguy cơ người dùng bị đánh cắp thông tin là rất lớn; vì tin tặc có thể tấn công vào các máy tính tiền này. Ngoài ra, việc thanh toán bằng di động nở rộ có thể là một kênh khác để tin tặc tấn công.
Theo Trend Micro, mối lo ngại nhất trong năm 2016 là những vụ đánh cắp dữ liệu y tế. Trong năm 2015, hơn 100 triệu hồ sơ bệnh án bị tiết lộ và rao bán trên chợ đen với giá vài USD, thậm chí chưa tới. Xu hướng này sẽ tiếp tục khi các bệnh viện, công ty bảo hiểm và các dịch vụ y tế khác cố gắng để tìm hiểu về an ninh kỹ thuật số.
Bên cạnh việc đánh cắp dữ liệu y tế, bạn có thể thấy các vụ đánh cắp dữ liệu trong nhiều lĩnh vực khác như vụ tấn công vào VTech – nhà sản xuất đồ chơi, để lộ thông tin của hơn 200.000 trẻ em và vụ đánh cắp dữ liệu tại Hello Kitty ảnh hưởng 3,3 triệu người dùng.
Mã độc mã hóa dữ liệu ransomware
Khi bị nhiễm mã độc, ransomware sẽ mã hóa các tập tin của bạn, sau đó yêu cầu bạn trả tiền chuộc rồi mới cung cấp mật khẩu giải mã dữ liệu. Cũng giống như việc đánh cắp dữ liệu, vấn đề này không phải là mới. Nó trở thành mối quan tâm hàng đầu khi một virus có tên CryptoLocker xuất hiện cuối năm 2013, sau đó có nhiều biến thể của virus này xuất hiện và làm đau đầu doanh nghiệp lẫn các nhà bảo mật. Ransomware là một mối đe dọa nghiêm trọng, và nó có thể trở nên tồi tệ hơn mỗi năm.
Đây không chỉ là mối lo dành cho các máy tính cá nhân, mã độc ransomware còn có thể khóa các tập tin trên một hệ thống, có nghĩa là một máy bị nhiễm có thể lây nhiễm sang toàn bộ công ty. Nó cũng có thể xuất hiện trên điện thoại và máy tính bảng thông qua những tin nhắn, email hoặc ứng dụng độc hại.
Theo các chuyên gia Trend Micro, nếu bạn tránh xa những email lừa đảo, không tải những tập tin độc hại có thể giúp cho máy tính của mình tránh khỏi những mã độc ransomware. Bạn cũng có thể thực thiện các biện pháp đề phòng khi sao lưu các tập tin thường xuyên. Bằng cách đó, nếu chúng bị khóa, bạn có thể xóa ổ đĩa và khôi phục lại.
Plug-in trình duyệt
Theo các cuộc khảo sát của Trend Micro, hàng ngày người dùng dành 3 giờ để online, phần lớn thời gian là trên một trình duyệt web. Vì vậy, tin tặc đã tập trung nguồn lực để tấn công các trình duyệt này.
Năm 2015 tin tặc đã nhắm vào các điểm yếu trên trình duyệt như Adobe Flash và Adobe Animate. Đã có rất nhiều bản vá lỗi khẩn cấp, với ít nhất 3 bản trong tháng 7 và 4 bản từ giữa cuối tháng 9 tới đầu tháng 11 năm ngoái. Firefox thậm chí đã chặn Flash trong một khoảng thời gian để giữ an toàn cho người dùng. Bởi vì có nhiều quảng cáo trực tuyến sử dụng Flash nên thậm chí các trang web hợp pháp có thể lây nhiễm cho máy tính nếu tin tặc tấn công vào mạng lưới quảng cáo trên trang web này.
Những nguy cơ từ Flash khiến các công ty đang nhanh chóng rời bỏ Flash/Animate. Facebook đã chuyển các video của mình sang HTML5, nhưng Flsash/Animate sẽ không biến mất chỉ trong chốc lát. Trên thực thế, nhiều người dùng dù không sử dụng Flash nhưng vẫn có thể để nguyên nó ở đó mà không gỡ bỏ, nên sẽ là một lỗ hổng dễ tấn công.
Check out our shop to see what's available